Nghỉ học đối với trẻ con, bất luận là thời hiện đại hay cổ đại, đều là một thứ “đại sát khí”.
Tạ Kỳ theo Tạ Tri Phi dạo bước trong vườn, bước chân nhẹ hẳn đi, tuy vẫn còn giữ dáng vẻ giáo dưỡng của công tử hầu phủ, nhưng trên mặt đã nhiều thêm mấy phần linh hoạt hiếm thấy.
Tạ Tri Phi nhìn mà âm thầm gật đầu hài lòng. Đứa nhỏ ở tuổi này, vốn dĩ nên như thế mới phải.
Hắn vốn muốn nhân cơ hội này bồi dưỡng thêm tình cảm với Tạ Kỳ, dĩ nhiên phải tìm đề tài khiến đứa trẻ hứng thú. Nhắc tới việc học với một hài tử vốn đã sợ mình, chỉ càng khiến nó thêm căng thẳng. Nghĩ đi nghĩ lại, Tạ Tri Phi bèn nhắc tới Thẩm Tuệ Nương.
“Kỳ Nhi, con có đến thăm mẫu thân chưa?”
Tạ Kỳ lắc đầu, trên gương mặt non nớt hiện lên một tia buồn bã rõ rệt:
“Mẫu thân không cho con vào viện, nói sợ con nhiễm bệnh khí.”
Dẫu trong phủ không ai cố ý nói rõ, nhưng đứa trẻ mẫn cảm này vẫn cảm nhận được bầu không khí khác thường, cũng mơ hồ hiểu rằng mẫu thân mình e là không còn ở bên nhân thế được bao lâu nữa.
Điều này cũng không khó hiểu. Thẩm Tuệ Nương yêu con đến tận xương tủy, mà Tạ Kỳ từ nhỏ đã thể nhược, tự nhiên không cho hắn đến gần giường bệnh. Chỉ là Tạ Tri Phi biết rõ, bệnh của nàng vốn chẳng phải bệnh truyền nhiễm, cái gọi là “bệnh khí” chẳng qua chỉ là cách nói của người xưa.
Hắn suy nghĩ rồi nói:
“Không sao. Con có thể đứng ngoài cửa nói chuyện với mẫu thân. Chỉ cần nàng nghe được giọng con, nhất định cũng sẽ rất vui.”
Đôi mắt Tạ Kỳ lập tức sáng lên, hớn hở nói:
“Vậy con đọc cho mẫu thân nghe thiên Mạnh Tử – Cáo Tử Thượng mà mấy hôm trước tiên sinh dạy con!”
Tạ Tri Phi trong lòng kinh ngạc không thôi. Một đứa trẻ mới bảy tuổi mà đã có thể đọc thuộc Mạnh Tử, thật khiến người ta khó mà tưởng tượng. Nghĩ lại bản thân năm bảy tuổi, e là còn đang trèo cây lội bùn, đến Mạnh Tử là ai cũng chẳng biết.
Kỳ thực, Thẩm Tuệ Nương đối với việc dạy dỗ Tạ Kỳ vô cùng coi trọng. Vì con thể nhược, nàng không ép luyện võ hay cưỡi ngựa bắn cung, nhưng việc đọc sách lại chưa từng buông lỏng, kể cả khi bản thân bệnh nặng cũng vẫn dốc lòng đốc thúc. Bởi vậy, Tạ Kỳ so với con cháu cùng tuổi trong các gia đình khác đều xuất sắc hơn nhiều.
Về sau hắn dần bị bỏ lại phía sau, cũng là bởi trong phủ có tân phu nhân, rồi lại thêm tiểu công tử, tiểu thư. Thấy hắn không được hầu gia coi trọng, những người khác cũng dần dần hờ hững, không còn ai để tâm hắn học hành ra sao.
Nhìn đứa trẻ hiểu chuyện lại ngoan ngoãn này, lòng Tạ Tri Phi mềm xuống, dịu giọng nói:
“Được. Chỉ cần con làm được, vài hôm nữa ta sẽ đưa con ra ngoại ô kinh thành xem trại nuôi ngựa.”
Đây chẳng phải điều kiện trao đổi, mà là phần thưởng dành cho sự nỗ lực của đứa trẻ.
Nghe vậy, Tạ Kỳ lại cúi đầu, do dự nói:
“Phụ thân… con không biết cưỡi ngựa.”
Hắn nhớ rõ khi trước phụ thân từng muốn dạy hắn cưỡi ngựa bắn tên để rèn luyện thân thể. Nhưng hắn quá yếu, ngay cả cây cung nhỏ nhất cũng kéo không nổi. Phụ thân khi ấy trách mắng một trận, mẫu thân tới che chở, phụ thân phất tay áo rời đi, từ đó về sau không nhắc lại chuyện này nữa.
Tạ Kỳ sợ rằng lần này cũng vậy, sẽ lại khiến phụ thân thất vọng. Mũi hắn cay xè, nhưng nhớ lời mẫu thân dạy, hắn là đích trưởng tử của hầu phủ, phải giống một nam tử hán, không được tùy tiện rơi lệ, bèn cố nén nước mắt.
Thế nhưng phụ thân lại không hề quở trách như trước. Tạ Tri Phi xoa đầu hắn, giọng nói hiếm hoi dịu dàng:
“Con còn nhỏ, không cần vội học cưỡi ngựa. Chúng ta đi chọn một con ngựa con mà con thích, nuôi cho tốt, đợi con lớn lên rồi hãy cưỡi.”
“Thật… thật ạ?”
Tạ Kỳ sững sờ, cứ ngỡ mình đang nằm mơ.
“Không chỉ vậy,” Tạ Tri Phi nói tiếp, “con còn có thể tự đặt tên cho nó, giống như con ngựa Đạp Tuyết của phụ thân vậy.”
Đạp Tuyết là con ô chuy mã mà nguyên thân Tạ Thiệu yêu quý nhất, bốn vó trắng như tuyết, do Ngũ hoàng tử đích thân ban tặng trong lễ đội mũ năm xưa.
Tạ Kỳ càng lúc càng thấy cảnh tượng trước mắt không chân thực. Trong lòng dâng lên cảm xúc vừa vui sướng, vừa kích động, lại xen lẫn chút kiêu hãnh.
Hắn biết phụ thân rất yêu Đạp Tuyết, thậm chí thời gian bầu bạn với nó còn nhiều hơn ở bên hắn. Nhưng Tạ Kỳ chưa từng oán giận, bởi hắn từng nghe người ta nói, chính phụ thân cưỡi Đạp Tuyết, mặc giáp trụ, từng liều chết chém giết phản nghịch trước cửa cung vì điện hạ.
Lớn lên trong gia đình quyền quý, suy nghĩ của Tạ Kỳ dĩ nhiên khác với trẻ con hiện đại. Dù mới bảy tuổi, hắn cũng không xem chuyện giết người trên chiến trường là tàn nhẫn, bởi đó là công huân của phụ thân.
Hắn sợ phụ thân, nhưng trong thâm tâm lại vô cùng ngưỡng mộ.
Nghe khắp nơi ca tụng công lao hiển hách của phụ thân, Tạ Kỳ càng thêm tự hào.
Chỉ trong chốc lát ở chung, đứa trẻ dần trở nên tự nhiên, còn lấy hết dũng khí nói về dáng vẻ con ngựa con mà mình mong muốn. Đôi mắt long lanh sáng rực, khiến tâm tình Tạ Tri Phi cũng theo đó nhẹ nhõm.
Nhưng niềm vui nhanh chóng bị cắt ngang.
“Biểu ca.”
Một giọng nữ trẻ trung, kiều kiều đột ngột xen vào.
Tạ Tri Phi ngẩng đầu, thấy cách đó không xa một thiếu nữ vận váy thủy hồng, dung mạo tinh xảo, bước nhanh về phía hắn. Người này chính là Tằng Thải Nguyệt – cháu gái bên ngoại của mẫu thân Tạ Thiệu.
Không chỉ có nàng, phía sau còn một thiếu nữ ăn mặc giản dị, khí chất trầm tĩnh, cúi mắt đứng yên, khác hẳn vẻ sắc sảo kiêu căng của Tằng Thải Nguyệt.
Tạ Kỳ cung kính chắp tay:
“Kỳ Nhi bái kiến biểu cô, bảy dì.” (*Chú thích: Bảy dì là em của mẹ, không biết ngoài từ “bảy dì” còn từ nào đúng hơn không 🙁 )
Tằng Thải Nguyệt thản nhiên nhận lễ, như thể bản thân đã là chủ nhân hầu phủ. Trái lại, Thẩm Nhu nhẹ nhàng hoàn lễ:
“Thẩm Nhu bái kiến hầu gia, đại công tử.”
Cảnh tượng ấy lọt vào mắt Tạ Tri Phi, dù đã biết trước cốt truyện, vẫn khiến hắn vô thức có thêm vài phần thiện cảm với Thẩm Nhu.
Tằng Thải Nguyệt thì gấp gáp thể hiện:
“Lâu ngày không gặp, biểu ca càng thêm oai phong tuấn tú.”
Ánh mắt thiếu nữ chan chứa ái mộ, ai nhìn cũng hiểu.
Tạ Tri Phi chỉ đáp nhạt nhẽo, vẻ lạnh lùng xa cách khiến Tằng Thải Nguyệt hơi chùn bước, nhưng lòng vẫn không cam.
Hắn quay sang dặn người hầu:
“Đưa đại công tử về nghỉ, bảo nhà bếp chuẩn bị điểm tâm con thích.”
Tạ Kỳ ngoan ngoãn gật đầu. Trước khi đi, Tạ Tri Phi lại xoa đầu hắn:
“Yên tâm, lời phụ thân đã hứa, nhất định không đổi.”
Nhìn bóng phụ tử thân cận, sắc mặt Tằng Thải Nguyệt và Thẩm Nhu hoàn toàn khác nhau.
Trong tay áo, bàn tay trắng của Tằng Thải Nguyệt khẽ siết chặt chiếc khăn lụa.
Rõ ràng cô mẫu từng nói, biểu ca xưa nay không mấy thân cận với Tạ Kỳ — đích trưởng tử ốm yếu kia. Cha mẹ nàng cũng bảo, không cần để ý một đứa trẻ con. Chỉ cần nàng gả vào hầu phủ, ngồi vững vị trí chủ mẫu đương gia, sau đó sinh hạ nhi tử, lại có cô mẫu đứng sau chống đỡ, thì còn chẳng phải muốn hô mưa gọi gió thế nào cũng được? Đích trưởng tử của nguyên phối lưu lại, rốt cuộc thì tính là gì?
Thế nhưng lúc này tận mắt chứng kiến Tạ Kỳ được Tạ Thiệu ôn tồn dặn dò, dịu giọng quan tâm, trong lòng Tằng Thải Nguyệt lập tức dâng lên cảm giác như đinh trong mắt, gai trong thịt. Gần như theo bản năng, nàng đã coi đứa trẻ kia là chướng ngại ngăn đường mình và biểu ca — cũng là ngăn đường tương lai của con cái nàng.
Tạ Tri Phi nhìn Tạ Kỳ được thị vệ dẫn đi xa, vừa quay đầu lại, liền đúng lúc bắt gặp gương mặt vặn vẹo vì ghen ghét của Tằng Thải Nguyệt.
Nàng lập tức hoảng hốt, vội vàng che giấu cảm xúc, cố tình chuyển sang đề tài khác:
“Biểu ca, hôm nay Kỳ Nhi sao lại không đọc sách? Hắn là đại công tử của hầu phủ, nếu tính tình tản mạn, hoang phế học hành, sau này không nên thân, chẳng phải sẽ làm mất thể diện Vĩnh Ninh hầu phủ sao?”
Lời nói này, hiển nhiên là lấy thân phận trưởng bối để tự cư xử.
Chỉ tiếc, Tằng Thải Nguyệt vốn không thật sự hiểu rõ Tạ Kỳ. Những điều nàng biết, phần lớn đều nghe từ miệng hầu phủ lão phu nhân. Mà Tạ Kỳ từ nhỏ đã được nuôi dưỡng bên cạnh Thẩm Tuệ Nương, lão phu nhân đối tôn nhi này cũng chẳng có bao nhiêu tình cảm sâu đậm. Thi thoảng nhắc tới, đa phần chỉ chê hắn bất hiếu với phụ thân, tư chất bình thường, rồi quy hết trách nhiệm lên đầu Thẩm Tuệ Nương, nói nàng giáo dưỡng vô phương.
Tạ Tri Phi lạnh giọng đáp:
“Là ta cho tiên sinh nghỉ một ngày, dẫn Kỳ Nhi đi dạo trong vườn. Ngươi cho rằng ta làm vậy là không ổn sao?”
Sắc mặt Tằng Thải Nguyệt cứng lại, gượng cười nói:
“Biểu ca tất nhiên sẽ không sai.”
“Đã biết hắn là đại công tử hầu phủ,” Tạ Tri Phi nói tiếp, giọng lạnh như băng, “thì ngươi không có tư cách khoa tay múa chân với hắn.”
Một bên, Thẩm Nhu từ đầu đến cuối lặng im, trong lòng không khỏi cười thầm — e rằng mộng đẹp của vị biểu tiểu thư hầu phủ này, sắp tan rồi.
Dù nói thế nào, hiện tại Tạ Kỳ vẫn là đích trưởng tử duy nhất của Vĩnh Ninh hầu phủ. Nếu sau này tục huyền lập tân phu nhân, tuyệt đối không thể không bận tâm đến hắn, càng không thể để tân phu nhân hà khắc với đích trưởng tử.
Tằng Thải Nguyệt dám ngang nhiên bộc lộ ác ý với Tạ Kỳ, lời lẽ lại không biết kiêng dè như vậy, Vĩnh Ninh hầu đâu phải kẻ hồ đồ, sao có thể yên tâm để nàng bước lên vị trí hầu phu nhân?
Tạ Tri Phi lại hỏi:
“Các ngươi vì sao lại xuất hiện ở đây? Thị nữ theo hầu đâu cả rồi?”
Bản triều lễ giáo tuy không đến mức khắt khe, nhưng phép tắc nam nữ vẫn được coi trọng, huống chi hai người trước mặt đều là khuê nữ chưa xuất giá.
Tằng Thải Nguyệt lập tức lộ vẻ yếu đuối đáng thương, mềm giọng nói:
“Biểu ca chẳng lẽ quên rồi sao? Khi còn nhỏ, chúng ta từng ở trong hầu phủ cùng nhau vui chơi mà.”
Lời này lại càng không đúng. Tuy là biểu huynh muội, nhưng tuổi tác chênh nhau hơn mười năm. Nguyên thân từ sớm đã gánh vác trọng trách chấn hưng hầu phủ, ngày ngày học văn luyện võ, chưa từng dám lơi là.
Vị biểu muội này, số lần gặp mặt có thể đếm trên đầu ngón tay.
Nguyên thân Tằng Thải Nguyệt vốn là người kiêu căng nông cạn, tính tình ngu ngốc, tâm cơ thủ đoạn đều chẳng có bao nhiêu. Chỉ cần một mình Thẩm Tuệ Nương, cũng đủ để trấn áp nàng.
Còn Thẩm Nhu thì khác. Nàng vốn ra ngoài thay y phục, lại vô tình gặp phải Tằng Thải Nguyệt. Đối phương ỷ vào thân phận biểu tiểu thư hầu phủ mà ngang ngược, mỉa mai nàng là thứ nữ cũng dám si tâm vọng tưởng. Ngay cả thị nữ bên cạnh cũng không dám lên tiếng, đều lặng lẽ lui ra.
Lúc này, Thẩm Nhu mới chậm rãi mở lời:
“Là ta bị lạc đường, lại tách khỏi thị nữ, nên mới lỡ bước vào vườn, quấy rầy hầu gia cùng đại công tử. Mong hầu gia thứ tội.”
Lời nói không nhiều, nhưng chu toàn thỏa đáng, rõ ràng là người rất coi trọng thanh danh bản thân. Dăm ba câu đã phủi sạch quan hệ, cũng không hề rộng lượng đến mức tiện tay giúp Tằng Thải Nguyệt giải vây.
Tạ Tri Phi không nói thêm gì, chỉ phân phó:
“Đưa hai vị tiểu thư về chỗ lão phu nhân.”
Nói xong liền xoay người rời đi.
Trong lòng Tằng Thải Nguyệt cuống quýt, hận không thể đuổi theo, chỉ mong được ở bên vị biểu ca quyền cao chức trọng, tuấn mỹ ung dung kia thêm chút thời gian. Nhưng nàng vừa bước lên đã bị thị vệ chặn lại, đồng thời sai người đi tìm tỳ nữ thích hợp đến hầu hạ.
Thấy Tạ hầu đã đi xa, Tằng Thải Nguyệt lập tức lộ rõ bản tính kiêu căng:
“Các ngươi quên ta là ai rồi sao? Dám cản ta, tin hay không ta để cô mẫu xử trí các ngươi!”
“Đây là mệnh lệnh của hầu gia,” thị vệ cúi đầu đáp, giọng điệu không kiêu không nịnh, “mong biểu tiểu thư chớ làm khó chúng ta.”
Không hề có nửa phần thoái nhượng.
Cuối cùng, Tằng Thải Nguyệt đành rời đi trong uất ức. Dù hầu phủ hạ nhân vì thân phận biểu tiểu thư được lão phu nhân sủng ái mà luôn cung kính với nàng, thậm chí có không ít người tin rằng nàng sẽ là tân hầu phu nhân tương lai, nhưng người ra lệnh lại là Vĩnh Ninh hầu Tạ Thiệu.
Đừng nói nàng chỉ là biểu tiểu thư làm khách, cho dù là lão phu nhân hay phu nhân còn tại vị, hạ nhân trong phủ cũng vẫn trước hết nghe lệnh hầu gia.
So với nàng, Thẩm Nhu lại được lòng người hơn nhiều. Nàng còn quay sang cảm tạ tỳ nữ đi theo, thái độ ôn hòa lễ độ, khiến người ta không khỏi sinh hảo cảm, cảm thấy vị thứ muội nhà mẹ đẻ của phu nhân này tính tình dễ chịu, biết tiến biết lui.
Thực ra, đó chỉ là sự cẩn trọng của Thẩm Nhu. Nàng không phải biểu tiểu thư có lão phu nhân chống lưng, chỉ là một thứ nữ Thẩm gia, bước vào Vĩnh Ninh hầu phủ quyền quý như vậy, sao có thể không cẩn thận? Nếu xảy ra chuyện, Thẩm gia chưa chắc đã vì nàng mà đứng ra.
Khác với hai vị thứ tỷ ngây ngốc kia, Thẩm Nhu sớm đã nhìn thấu tâm tư của mẹ cả và đích tỷ.
Chẳng qua là mắt thấy bản thân không sống được bao lâu, không yên lòng đích tử còn nhỏ, nên muốn từ nhà mẹ đẻ chọn một thứ muội gả vào làm vợ kế.
Tằng Thải Nguyệt đủ kiểu gây khó dễ với nàng, chẳng qua cũng chỉ sợ nàng tranh đoạt mà thôi.
Nhưng Thẩm Nhu chưa từng có ý niệm ấy.
Nhìn đích tỷ từng được ca ngợi là ưu tú xuất chúng, vậy mà bước vào Vĩnh Ninh hầu phủ lại bị hậu trạch bào mòn tâm huyết, mang bệnh vẫn phải tô son điểm phấn, gắng gượng giữ thể diện trước mặt mọi người, Thẩm Nhu chỉ cảm thấy đáng thương lại bi ai, tuyệt không muốn nhảy vào cái hố lửa ngoài mặt phong quang ấy.
Huống chi nhớ tới ánh mắt của người nhà mẹ đẻ khi đến thăm bệnh — ánh mắt như đang đánh giá một món đồ, Thẩm Nhu liền thấy vô cùng khó chịu.
Dựa vào đâu vận mệnh của nàng phải bị nắm trong tay mẹ cả và đích tỷ?
Lần đầu gặp vị tỷ phu hầu gia Tạ Thiệu này, Thẩm Nhu lại có chút đổi mới ấn tượng — hóa ra hắn không hề là mặt lạnh sát thần như lời đồn bên ngoài.